Beginner

To make a good job
Len dau trang
Showing posts with label Kiến thức chuyên ngành. Show all posts
Showing posts with label Kiến thức chuyên ngành. Show all posts

Saturday, July 2, 2016

Lời khuyên khi thiết kế các chi tiết có lỗ tròn

1.    Nên khoan vuông góc với mặt phẳng cần khoan, khoan từ từ để tránh nhưng khó khắn có thể gặp phải khi bắt đầu và giúp cho lỗ được định vị chính xác.

2.    Khi thoát mũi khoan khỏi mặt phẳng cần khoan cũng nên vuông góc với trục của mũi khoan để tránh vấn đề về đứt, vỡ khi mũi khoan kết thúc công việc.




3.    Nếu đường thẳng gia công lỗ là đường có giới hạn đặc biệt, tốt nhất đó là tránh xa cắt đứt quãng trừ khi bạc lót dẫn hướng có thể được đặt tại vị trí bắt đầu gia công trên mặt phẳng. Nếu những lỗ khoan cắt nhau trên cùng một bề mặt, sẽ có một vài sự sai lệch xảy ra. Ngay cả khi đường thẳng cần khoan là không có giới hạn, thì điều quan trọng là tâm của mũi khoan vẫn nằm trong phần vật liệu trong suốt quá trình cắt nhằm tránh sự sai lệch và khả nằng gãy mũi khoan.

4.    Tốt nhất là sự dụng những mũi khoan tiêu chuẩn.


5.    Những lỗ thông dễ nhìn được sử dụng rộng rãi hơn là nhưng lỗ không thông bởi vì lỗ này dễ dàng cho các công cụ sử dụng làm việc và thoát phoi, đặc biết là khi có công đoạn thứ 2 như doa, taro, hay mài được yêu cầu.



6.    Khi những lỗ không thông đã được định vị rõ, chúng ko nên có đáy phẳng. Mũi khoan sẽ sinh ra một điểm lỗ nhỏ và nếu hình thù của mặt dưới cung đươc xác định sẽ yêu cầu quá trình gia công thứ 2. Những lỗ có đáy phẳng là nguyên nhân tạo ra các vẫn đề khi doa bởi vì mũi dao để doa cần phải có mặt kết thúc hình nón và cần có không gian để phoi thoát ra ngoài nhằm tránh cho dụng cụ bị mòn và vỡ.
7.    Tránh tạo ra những lỗ sâu ( lớn hơn 3 lần đường kính) bởi vì sẽ gặp khó khăn khi thoát phoi và có khả năng xảy ra sai lệch khỏi trục ban đầu. Một thông báo nhỏ là với nhưng lỗ sâu tối đa ( nòng sung…) có thể khoan được, người ta sử dụng coongh nghệ, thiết bị công cụ khác ( xem them phần “Gun Drilling and Gun Reaming” ở phía dưới). Nếu như khoan súng có giá trị thì nó cũng không phải là đắt nhất nhưng tuy nhiên cấu tạo của nó có hiệu quả đặc biệt và điều này là lý do nên tránh nếu có thể.


8.    Tránh việc thiết kế từng phần với nhiều lỗ nhỏ nếu như chúng không thực sự cần thiết, bởi vì những mũi khoan nhỏ rất dễ tạo vết nứt. Khoảng 3mm (1/8 inch) là đường kính nhỏ ao ước để tiện lợi cho sản xuất.

9.    Nếu yêu cầu hoàn thành một lỗ rộng thì điều ao ước đó là có lõi (lỗ) trong phần phôi sẽ được gia công bằng khoan). Chính điều này tiết kiệm vật liệu và giảm bớt phần năng lượng yêu cầu cho công tác khoan. 
10.    Nếu từng phần chi tiết yêu cầu nhiều lỗ khoan thì khoảng cách của chúng phải từ cùng một mặt phẳng ngoài tới vị trí định vị mũi khoan.



11.    Những phần có dạng chữ nhật nên được sử dụng để chỉ định vị trí của mũi khoan, doa lỗ hơn là sử dụng tọa độ góc. Chúng sẽ dễ dàng và gần như hoàn hảo cho người thợ sử dụng phân bố các phần hay đồ gá cố định mũi khoan.

12.    Trong phạm vi có thể, các bộ phận thiết kế để cho các lỗ có thể khoan từ 1 mặt hay ít mặt nhất có thể. Điều này sẽ làm đơng giản đi quá trình gia công và thời gian gia công là nhỏ nhất.


13.    Khi thiết kế một bộ phận phải có không gian cho bạc dẫn khoan gần với bề mặt bên ngoài nơi mà lỗ khoan bắt đầu tiến vào.


14.    Tiêu chuẩn hóa kích thước của lỗ, then và ren vít đến mức có thế để số kích thước mũi khoan và số lần thay đỏi mũi khoan là nhỏ nhất.


15.    Khi sản xuất với số lượng đủ lớn cần thiết phải sắp xếp nhiều mũi khoan khác nhau, người thiết kế phân vân về giới hạn kích thước khi hai lỗ khoan gần nhau để chúng cùng có đủ không gian. Những lỗ khoan nhỏ hơn có thể sát nhau hơn là những lỗ khoan lớn bởi vì bánh răng, mâm cặp hay bạc lót dẫn hướng có thể làm nhỏ hơn. Có một qui tắc là những lỗ nhỏ có đường kính 6mm (1/4 inch) hay nhỏ hơn thì khoảng không gian giữa 2 tâm lien tiếp không nên nhỏ hơn 19mm (3/4 inch), mặc dù trong một số trường hợp thì có thể là 13mm (1/2 inch).



REAMING:
1. Mặc dù doa áp dụng tốt để khoan lỗ với một bạc dẫn hướng khi vị trí lỗ hoặc sự đồng tâm là quan trọng,không phụ thuộc vào doa để điều chỉnh vị trí hoặc sự đồng tâm trừ khi sai lệch là rất nhỏ.



2. Nếu có thể nên tránh các lỗ khoan giao nhau để tránh gãy dao và vấn đề hỏng mũi khoan.



3. Nếu một lỗ kín cần doa,thực hiện khoan tốt để tạo thêm chiều sâu cung cấp chỗ cho phoi.



BORING:
1. Với mặt phẳng khi hoạt động khoan làm việc, cần tránh các lỗ hổng thiết kế với bề mặt bị gián đoạn.Cắt giảm gián đoạn dẫn đến xu hướng lệch lỗ tròn và gây ra rung động và mòn mũi khoan.



2. Tránh thiết kế lỗ với tỷ lệ độ sâu với đường kính lớn hơn 4 hoặc 5: 1; nếu không, độ chính xác có thể bị mất do mũi khoan bị lệch. (nếu hợp kim tạo mũi khoan là khả dụng, tỉ lệ độ sâu với đường kính có thể lên đến 8:1.) Nếu lỗ sâu là không thể tránh khỏi, hãy xem xét việc sử dụng các đường kính bậc thang để có thể hạn chế độ sâu của bề mặt lỗ khoan. 



3. Cần phải đục xuyên qua các lỗ bất cứ khi nào có thể. Nếu lỗ phải là khoan ngang chừng, cho phép các lỗ thô sâu hơn phần lỗ khoan một lượng bằng ít nhất một phần tư đường kính lỗ



4. Hãy nhớ rằng ngoại trừ một lượng nhỏ đường kính lỗ đặc biệt, khoan là tốn kém hơn so với drilling and reaming. Trang thiết bị tốn kém hơn, và hoạt động chậm hơn. Sử dụng khoan khi yêu cầu độ chính xác đòi hỏi điều đó. Không nên chỉ định dung sai lỗ khoan, trừ khi thực sự cần thiết.



5. Khi khoan với các hoạt động gia công chính xác khác, chi tiết phải là cứng để độ lệch hay rung động được giảm bớt lực, đó như một kết quả của việc phòng tránh chúng. Việc quan tâm cũng phải được thực hiện từ phôi và thiết kế đồ gá để tránh sai lệch phần nào khi nó được kẹp trong đồ gá, nếu điều đó xảy ra bề mặt gia công sẽ bị nhảy khỏi vị trí kẹp.


Lời khuyên tổng quát nhằm thiết kế sản phẩm đáp ứng yêu cầu gia công



1. Tốt nhất là nên tránh phải gia công. Nếu bề mặt hay đặc điểm mong muốn có thể được tạo ra bằng phương pháp đúc hay tạo hình trước thì chi phí sản xuất luôn nhỏ hơn.
2. Chỉ rõ bề mặt và dung sai kích thước lớn nhất có thể, bề mặt phải thống nhất để đơn giản cho quá trình gia công và tránh được quá trình gia công thứ 2 tốn kém hơn như mài, doa, mài tinh…




3. Thiết kế từng bộ phận phải đơn giản cho việc gá, kẹp và đảm bảo chắc chắn trong suốt quá trình gia công. Bề mặt lắp ghép rộng song song với bề mặt gá kẹp.

4. Tránh thiết kế yêu cầu những góc nhọn và điểm nhọn ở dụng cụ cắt bởi vì điều này sẽ tạo nên nhiều vấn đề đứt, vỡ trên dụng cụ hơn.

5. Sử dụng lượng dư mọi lúc có thể nếu vậy sẽ loại bớt được một công đoạn gia công hoặc là cần gia công bổ sung tại bề mặt đó.




6. Nếu có thể, gia công chi tiết theo từng vị trí luôn tốt hơn vì sẽ tránh được sự gián đoạn trong quá trình cắt bởi vì chúng luôn có xu hướng rút ngắn tuổi thọ công cụ hay cản trở việc sử dụng công cụ cắt nhanh hơn như mũi các bít, công cụ bằng gốm.

7. Thiết kế từng bộ phận phải đủ cứng để chịu được lực kẹp và gia công mà không bị biến dạng. Lực tác động bằng lực cắt trên phôi có thể trở nên nghiêm trọng. Các bộ phận có thể gặp vấn đề đó là những thành mỏng, gân mỏng hay những hốc sâu, lỗ sâu cần phải gia công. Thiết kế chi tiết có độ đứng vững cao có thể được sử dụng ngay cả khi đang tiến hành gia công mặt phôi.


8. Tránh các đường viền hay vát mép đến mức có thể trong việc giữ lại dạng hình chữ nhật tại những nơi sử dụng những công cụ đơn giản.

9. Giảm số lượng và kích thước của vai, gờ bởi vì chúng thường yêu cầu thêm
bước gia công và vật liệu bổ sung.

10. Tránh cắt ở phần dưới nếu có thể vì chúng luôn cần những quá trình gia công đặc biệt.
11. Xem xét đến khả năng thay thế khi sử dụng máy dập để gia công chi tiết. Nếu có sẵn dụng cụ hay với số lượng lớn có thể đủ để trừ dần chi phí, dập chi tiết kim loại luôn luôn có chi phí thấp hơn khi chúng ta gia công, tất nhiên độ chính xác hay bề mặt bên ngoài khi kết thúc luôn đạt đủ yêu cầu.




12. Tránh sử dụng bề mặt được tôi cứng để gia công trừ khi chúng yêu cầu những đặc tính đặc biệt rất cần thiết trong gia công.

13. Đối với những phần mỏng, phẳng yêu cầu gia công bề mặt thì lượng dư phải đủ cho cả gia công thô và gia công hoàn thiện. Trong một số trường hợp, khuyến khích làm giảm ứng suất giữa quá trình gia công thô và gia công hoàn thiện. Đôi lúc cần cả 2 lần gia công trên cả 2 mặt của chi tiết. Lượng dư nằm trong khoảng 0.4 mm là đủ cho gia công hoàn thiện.

14. Thích hợp nhất là gia công bề mặt trên cùng một mặt phẳng. Nếu là những hình trụ với cùng đường kính , để giảm số lượng những lần gia công không cần thiết khi bề mặt gia công không cùng trên một mặt phẳng thì nên gia công tất cả từ cùng một phía hoặc cùng một lần gá đặt.

15. Luôn quan tâm đến không gian vào ra của lưỡi cắt, ống lót hay các yếu tố cố định.

16. Thiết kế phôi với những đường cắt tiêu chuẩn có thể được sử dụng thay thế cho những đường cắt với hình dáng đặc biệt.
17. Tránh có những đường chia giữa các phần hay gờ, viền trên mặt để thỏa mãn yêu cầu kẹp hay định vị bề mặt. Cung cấp sự chọn lữa giữa kẹp và cố định bề mặt nếu có thể.

18. Tránh có những chỗ nhô ra, vai, gờ…. Nơi mà gây trở ngại cho hoạt động của máy cắt. Thay vào đó cung cấp không gian phẳng, thoáng tới cuối của đường cắt. Không gian đó có thể được đúc hay hình thành để làm giảm số lượng máy cần gia công. Điều này cũng cung cấp một không gian không giới hạn cho ba via hình thành khi gia công.

19. Hình thành ba via là kết quả vốn có của hoạt động gia công. Người thiết kế nên cung cấp một khoảng hở giữa chúng để nếu có thể dễ dàng loại bỏ bavia.

Một số lời khuyên, kinh nghiệm trong Thiết kế và Sản xuất trong Cơ khí

Bài này là kinh nghiệm thực tế và tích lũy trong quá trình làm việc, học hỏi, tham khảo một số tài liệu nước ngoài. Nếu có phần nào chưa đúng với doanh nghiệp, công việc bạn đang làm mong bạn comment lại để chúng ta cùng so sánh học hỏi lẫn nhau.


- Thiết kế nên hợp nhất những tiêu chuẩn hình học tại kích thước chuyển tiếp, bề mặt ngoài của những chỗ gờ, và những chỗ vát mép.

- Thiết kế nên giảm đến mức thấp nhất những chỗ không có gối đỡ, những kết cấu kích thước nhỏ có thể giảm bớt độ lệch của kết cấu bằng dụng cụ cắt.Giữ những chi tiết càng ngắn càng có thể sẽ giúp đỡ trong vấn đề này.Những chi tiết ngắn và chắc dễ gia công hơn chi tiết dài và mỏng,những chi tiết yêu cầu có ụ định vị hoặc giá đỡ bàn dao. Xem hình dưới.


- Một sản phẩm cơ khí nó đòi hỏi sự phức tạp và không liên tục trong quá trình cắt nên có thể bỏ qua nếu có thể. Đường cong hay mặt khoan nghiêng, và lỗ hoặc xẻ rãnh trước khi tiện là minh họa cho điều trên.

- Khi vật đúc hoặc một chi tiết đuược thiết kế có hay phần diện tích bề mặt gờ nhô ra, góc giữa bề mặt nên là 2 đến 3 độ từ mặt phẳng chuẩn đến trục của chi tiết. Mặ t nghiêng được tạo ra từ dụng cụ cắt.

- Bán kính, nếu không giới hạn chức năng của chi tiết, nên lớn và sao cho phù hợp với bán kính chuẩn của dao cắt. Thông thường, bán kính để do nhà sản xuất quyết định.

- Các sản phẩm được tạo bằng cách đúc, rèn ,dập thì luôn có những vết phân chia, khi tiến hành gia công tiện thì không nên kẹp vào các bền mặt có đường nét đó. Nên thiết kế thêm bề mặt khác để gá kẹp.


- Khi thiết kế các chi tiết cho tiện bao hình cần đảm bảo các biên dạng có hình dáng dễ dàng cho chuyển động của dao (trong tiện bao hình chuyển động của dao là chuyển động phối hợp giữa chạy dao dọc và chạy dao ngang).
Cố gắng hạn chế số lần thay đổi hướng chuyển động và hình dáng lưỡi cắt, tránh các rãnh vuông góc hoặc các bước nhảy thẳng đứng, các rãnh xiên.

1. Thiết kế sản phẩm nên sử dụng hình dạng và kích cỡ cắt tiêu chuẩn hơn là không theo tiêu chuẩn, Độ rộng rãnh , bán kính vát , hình dạng góc , và các hình thức tổng thể nên phù hợp với những gì có sẵn của máy cắt hơn là những đòi hỏi chế tạo đặc biệt. Những dao phay đặc biệt thì đắt và khó khăn cho bảo trì.

2. Thiết kế sản phẩm cho phép ưu tiên chế tạo nhiều nhất có thể để xác định bán kính nơi 2 bề mặt phay giao nhau hoặc nơi biên dạng phay phức tạp. Điều này sẽ cho phép việc sử dụng tiêu chuẩn có sẵn, hoặc mặt cắt dễ dàng nhất.

3. Khi một mặt phẳng nhỏ là cần thiết, như đối với một bề mặt chịu lực hoặc đầu bulong đặt vuông góc với một lỗ, chế tạo sản phẩm nên sử dụng tiện mặt tựa, cái mà nhanh hơn và kinh tế hơn so với phay bề mặt. 


4. Khi tiện mặt tựa hoặc khuôn đúc nhỏ khác được phay bề mặt được quy định cụ thể , nó là ứng dụng tốt để thiết kế một khuôn dưới cho các bề mặt đã được gia công

5. Khi bề mặt bên ngoài giao nhau và một góc nhọn không mong muốn , chế tạo sản phẩm nên vát xiên hay làm vát góc hơn là làm tròn . Các góc xiên và vát có thể được tạo ra bởi các mặt phay, trong khi làm tròn đòi hỏi hình dạng dao phay và thiết lập chính xác hơn, hầu hết đều đắt tiền bảo trì.

6. Khi phay hình dạng hoặc gia công bao lơn, tốt nhất không nên cố gắng để pha trộn hình dạng bề mặt đã có sẵn vì pha trộn bề mặt phay thì khó khăn để đạt được . Các phương pháp tiếp cận được ưu tiên.

7. Thiết kế các rãnh then nên cắt rãnh then theo đường song song với tâm trục và tạo các bán kính ở dưới cuối rãnh. Một dao phay tiêu chuẩn có thể tạo thành cả chiều rộng và bán kính dưới đáy rãnh then.(Xem hình bên)Nguyên tắc cũng áp dụng cho các rãnh khác, cưa cắt, doa và phay bề mặt.



8. Một thiết kế cái mà yêu cầu phay bề mặt tiếp giáp với một gờ hoặc mặt bích nên tạo khoảng trống cho phần cắt . Bước nhỏ , bán kính hoặc mặt bích nghiêng nên được sử dụng.

9. Một sản phẩm thiết kế cái mà tránh được sự cần thiết của phay tại đường chia , vùng gờ , và sẽ kéo dài tuổi thọ cắt .

10. Với các quá trình gia công bề mặt khác , những thiết kế có tính kinh tế nhất là những thiết kế mà yêu cầu ít thao tác riêng biệt nhất. Các bề mặt trong cùng một mặt phẳng hoặc ít nhất là trong cùng một hướng và trong mặt phẳng song song được ưu tiên.

11. Thao tác phay thường có thể được thực hiện kinh tế hơn nếu sản phẩm thiết kế thêm vào nó cho sắp xếp như vậy mà một bề mặt phay có thể được lồng lắp vào một số các bộ phận trong thao tác của một bộ dao phay . Điều này cũng có thể xảy ra nếu các bộ phận có thể được " cắt từng miếng mỏng " từ một phôi dài sau khi phay . Ngay cả khi các bộ phận không có bề mặt phẳng liền kề như được hiển thị , miễn là chúng được thiết kế để họ có thể lồng với nhau , sao cho bộ dao phay có thể sử dụng được. 

12. Thiết kế sản phẩm nên tạo khoảng hở để cho phép việc sử dụng các dao cắt kích thước lớn hơn là dao cắt nhỏ để cho phép cao tỷ lệ loại bỏ vật liệu , sử dụng hiệu quả hơn công suất của máy , và điều kiện vận hành thấp hơn khi gia công. Dao cắt có kích thước nhỏ hơn ít gồ ghề và yêu cầu tốc độ hoạt động cao hơn máy có hiệu quả . Chúng có nhiềuu rung động , và lệch của các công cụ và các thành phần máy. Khe hở lớn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng của dao cắt gắn cácbit . Điều này mang lại tốc độ sản xuất cao , bảo trì máy cắt tối thiểu , và thời gian chết ít thường xuyên để thay đổi công cụ
13. Cuối rãnh dao độ sâu của không nên vượt quá đường kính của dao cắt . 




Tiêu chuẩn về trình bày bản vẽ kỹ thuật

Tài liệu nói về các tiêu chuẩn, quy ước trong kỹ thuật như tỉ lệ khung bản vẽ, khung tên thường dùng trong bản vẽ in ấn...


Download
http://www.mediafire.com/download/zddz826tjdc6iac/TC+ban+ve+k%E1%BB%B9+thu%E1%BA%ADt.pdf

Câu đố chuyên ngành - Thiết kế 1 vật mà thỏa mãn điều kiện của đề bài

Dưới đây là hình và chính là đề bài của câu đố đầu tiên.
Hình vẽ dưới là 1 tấm có 3 lỗ có hình dáng khác nhau.
Các bạn thiết kế 1 chi tiết nào đó có hình dáng bất kỳ sao cho khi ta đưa chi tiết đó đi qua từng lỗ đều vừa khít với lỗ đó và lọt qua lỗ được.
Hình dáng của chi tiết đó phải như thế nào?
Xin mời các bạn cùng thử sức! 






Đáp án của một bạn:



Thursday, June 23, 2016

Khái quát & Cách tiếp cận của các phần mềm CAD

Các khái niệm định nghĩa về CAD
- CAD: Computer aided design – Thiết kế với sự trợ giúp của máy tính.
- CAM: Computer aided manufacturing – Sản xuất với sự trợ giúp của máy tính.
- CIM: Computer Integrated Manufacturing - Sản xuất tích hợp trợ giúp máy tính
- CNC: Computer Numerical Control - Điều khiển số sử dụng máy tính
CAD là từ viết tắt của Computer Aided Draft hoặc Computed Aided Design.
Hiểu một cách chung nhất tức CAD là sử dụng máy tính trong quá trình thiết kế và lập bản vẽ. Theo phương pháp truyền thống thì các bản vẽ kỹ thuật thì được vẽ bằng tay. Công việc này đòi hỏi rất nhiều công sức và thời gian đặc biệt là những chi tiết phức tạp. Vì vậy mà ngày nay CAD được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực mà không chỉ riêng trong lĩnh vực cơ khí sản xuất mà còn trong cả xây dựng, kiến trúc, mỹ thuật, thương mại, y học… (trong bài viết của tôi lần này chỉ xin thu hẹp khái niệm CAD trong lĩnh vực cơ khí, mà đúng ra phải gọi là MCAD = Mechanical CAD).CAD chủ yếu được sử dụng trong thiết kế và phát triển sản phẩm. CAD chủ yếu là để thể hiện mô hình 3D và bản vẽ 2D. 

Ưu điểm của CAD (Advantages of CAD):

- Tạo và sửa lỗi dễ dàng hơn.
- Trực quan hơn vì cho phép ta quan sát mô hình ở góc nhìn 3D với rất nhiều cách quan sát khác nhau.
- Lưu và tái sử dụng các bản vẽ dễ dàng hơn bằng đĩa cứng hay CD.
- Tăng độ chính xác. Do vẽ bằng máy tính nên chắc chắn bản vẽ xuất ra sẽ chính xác hơn làm bằng tay rất nhiều.
- Lưu trữ thành cơ sở dữ liệu để dễ dàng quản lý hơn. Đồng thời chuyển file mô hình dễ dàng hơn Internet. Giảm thiểu thời gian trao đổi thao luận giữa các kỹ sư ở các khu vực địa lý khác nhau. Gửi nhận qua email chỉ mất vài giây.
- Việc phân tích, mô phỏng và kiểm tra mô hình 3D dễ dàng hơn.
Một số lợi ích của CAD
- Nâng cao năng suất kỹ thuật.
- Giảm thời gian chỉ dẫn.
- Giảm số lượng nhân viên kỹ thuật.
- Dễ cải tiến cho phù hợp với khách hàng.
- Phản ứng nhanh với nhu cầu thị trường.
- Tránh phải ký các hợp đồng con để kịp tiến độ.
- Hạn chế lỗi sao chép đến mức tối thiểu.
- Độ chính xác thiết kế cao.
Khi phân tích dễ nhận ra tương tác giữa các phần tử cấu thành.Phân tích chức năng vận hành tốt hơn nên giảm khâu thử nghiệm trên mẫu.
- Thuận lợi cho việc lập hồ sơ tư liệu.
- Bản thiết kế có tính tiêu chuẩn cao.
- Nâng cao năng suất thiết kế dụng cụ cắt.
- Dễ tiết kiệm về cho phí, giảm giá thành.
Giảm thời gian đào tạo hội họa viên và lập trình viên cho máy CNC.
- Ít sai sót cho lập trình máy CNC
- Giúp tăng cường sử dụng các chi tiết máy và dụng cụ cắt có sẵn.
- Tiết kiệm vật liệu và thời gian máy chờ nhòe thuật toán tối ưu.
- Nâng cao hiệu quả quản lý trong thiết kế.
- Dễ kiểm tra chất lượng sản phẩm phức tạp. Nâng cao hiệu quả dao diện, thông tin, dễ hiêu nhau hơn giữa các nhóm kỹ sư, thiết kế viên, hội họa viên, quản lý viên và các nhóm khác.


Nhược điểm của CAD:

- Thời gian và chi phí cho việc triển khai một hệ CAD là lớn.
- Thời gian và chi phí cho việc đào tạo người dùng CAD lơn. Tuy nhiên hiện nay nhờ nguồn tài liệu phong phú trên mạng Internet và các diễn đàn thảo luận mở nên cũng có phần dễ dàng hơn chút.
- Chi phí maintenance cho phần mềm CAD/
- Thời gian và chi phí cho việc chuyển các bản vẽ cũ vẽ bằng tay sang CAD cũng không nhỏ.


Sự phát triển của phương pháp mô hình hóa hình học cùng với thành tựu của công nghệ thông tin, công nghệ điện tử, kỹ thuật điều khiển số đã có những ảnh hưởng trực tiếp đến công nghệ thiết kế và gia công tạo hình.

Bản vẽ ký thuật được tạo 
ra từ hệ thống vẽ và tạo bản vẽ 
với sự trợ giúp của máy tính.
-Tạo mẫu thủ công được thay thế 
bằng mô hình hóa hình học trực
tiếp từ giá trị lấy mẫu 3D.
-Mẫu chép hình được thay thế

Bằng mô hình toán học –là mẫu ghép hình và gia côn mô
hình hình học lưu trữ trong bộ nhớ máy vi tính và ánh xạ trên màn hình dứơi dạng mô hình khung lưới.
-Gia công ghép hình được thay thế bằng gia công điều khiển số (CAM). Về công nghệ, khác biệt cơ bản giữa gia công tạo hình theo công nghệ truyền thống và công nghệ CAD/ CAM/ là thay thế tạo hình theo mẫu bằng mô hình hóa hình học. Kết quả là mẫu ghép hình được thay thế bằng mô hình hình học số ( Computation Geometric Model – CGM) và gia công điều khiển số. Mặt khác khhả năng kiểm tra kích thước trực tiếp và khả năng chọn chế độ gia công thích hượp ( gia công thô,bán tinh và tinh). Theo công nghệ CAD/ CAM phần lớn các khó khan của quá trình thiết kế và gia công tạo hình theo nghệ truyền thống được khắc phục vì: 
-Bề mặt gia công đạt được chính xác và tinh xảo hơn.
-Khả năng nhầm lẫn do chủ quan bị hạn chế đáng kế.
-Giảm được nhiều tổng thời gian thực hiện qui trình thiết kế và gia công tạo hình.

Friday, January 1, 2016

Kinh nghiệm làm JIG

Trước tiên chúng ta nên hiểu rõ hơn về JIG.
JIG hay còn gọi là khuôn, đồ gá dùng để gá chi tiết hay cụm chi tiết nào đó. JIG chủ yếu dùng để test lỗi của các sản phẩm như vỏ điện thoại, Note, Check Logo, Ép 2 chi tiết với nhau để chúng được lắp với nhau....

Tùy theo yêu cầu về độ chính xác mà chúng ta làm JIG có dung sai lớn hay nhỏ, có JIG cần có độ dịch chỉnh nhưng có JIG lại không có độ dịch chỉnh của vật đem test. Và cũng tùy theo loại vật liệu làm JIG mà chúng ta nên cho dung sai phù hợp (cái này làm theo kinh nghiệm).

Đa số JIG là do các công ty Vendor làm nên khi làm công ty khác họ sẽ gửi bản vẽ cho các Vendor làm, nếu không có bản vẽ mà có mẫu test thì yêu cầu người làm phải cẩn thận và dùng thước tốt nhất là dùng hàng Made in Japanđể đảm bảo đo được chính xác.
Một chú ý nữa là khi mình thiết kế JIG thì phải có mẫu test và phải biết được các yêu cầu, nếu không thiết kế và gia công chỉ là vô ích vì JIG mà sai là sẽ không sửa lại được. Nếu là JIG có hình dạng lòng 3D thì phay trên máy CNC mất rất nhiều thời gian (có thể là mất 1 ngày mới xong một biên dạng) nên nếu các bạn thiết kế JIG nên cần phải chắc chắn kích thước.
Sai cũng không hẳn là bỏ JIG đó nếu chúng ta làm có phương pháp. Ví dụ chúng ta đo 1 vỏ chiếc Note PC và làm bộ JIG để đo kích thước vỏ đó, JIG này yêu cầu không có độ dịch chỉnh. Lúc này người thiết kế sẽ phải lên bản vẽ chế tạo, nếu kích thước cúng ta đo được là dài x rộng x cao (306x205x7).
Độ dịch chỉnh là không có thì chúng ta làm khuôn JIG có kích thước 305x204x6.5 chẳng hạn (kích thước này là hẹp hơn so với vật test). Khi gia công xong và đạt được kích thước như vậy chúng ta nên mang vật test ra và đặt vào lòng khuôn, nếu cảm thấy không vừa thì chúng ta có thể mở rộng kích thước ra. Còn nếu kích thước khuôn đó vẫn rộng thì các bạn biết rồi,,,,hehe

Trên đây là một số ý mà mình biết, nếu bạn nào làm trong lĩnh vực thiết kế hay gia công khuôn JIG thì mong các bạn cho ý kiến và đóng góp thêm.
JIG "LOGO CHECK JIG", JIG này dùng để kiểm tra kích thước logo SAMSUNG
Các chữ cái SAMSUNG không thẳng hàng và không bằng nhau nên cần phải kiểm tra, nếu lỗi thì logo đó bị loại



Đây là bộ JIG